DND.TÂM
~/home›~/posts›Hành Vi
Ảnh minh họa cho bài viết: Các loại thiên kiến nhận thức: danh sách 20 thiên kiến cho marketer
HÀNH VI

Các loại thiên kiến nhận thức: danh sách 20 thiên kiến cho marketer

Đặng Tâm
Đặng Tâm

TÓM TẮT BỞI AI

Thiên kiến nhận thức không làm khách kém thông minh; ai cũng dùng những lối tắt này khi phải quyết nhanh. Người bán cần biết lối tắt nào chen vào lúc khách để ý, so giá, sợ mất hay nhìn người khác, và lối tắt nào khiến chính mình đọc sai khách. Dùng chúng để bớt cản trở khách, đừng dùng để gài.

Các loại thiên kiến nhận thức (list of cognitive biases) là danh sách những sai lệch có quy luật trong cách con người phán đoán, sinh ra từ các lối tắt giúp não ra quyết định nhanh. Với marketer, đó là tấm bản đồ để hiểu và tác động vào hành vi của khách hàng.

Bài này gom 20 thiên kiến thành năm nhóm, theo từng chặng khách đi qua trước khi mua. Nhóm cuối dành cho chính người bán, vì thiên kiến không chừa một ai. Mỗi mục có một thí nghiệm gốc và một gợi ý dùng cho doanh nghiệp nhỏ.

Thiên kiến nhận thức là lối tắt có quy luật, ai cũng mắc phải

Năm 1974, Amos Tversky và Daniel Kahneman mô tả ba lối tắt con người dùng khi phán đoán trong điều kiện không chắc chắn: dựa vào mức giống nhau, dựa vào việc ví dụ có dễ nhớ ra không, và dựa vào một con số khởi điểm.

Hai ông nhận xét các lối tắt này rất tiết kiệm năng lượng của não và thường hiệu quả. Cái giá phải trả là chúng dẫn tới những lỗi có hệ thống, và đoán trước được.

Chữ quan trọng ở đây là đoán trước được. Nếu khách sai một cách ngẫu nhiên, marketing chẳng làm được gì. Vì khách sai theo quy luật, bạn có thể biết trước họ sẽ vấp ở đâu và dọn đường cho họ.

Sơ đồ năm nhóm thiên kiến nhận thức xếp dọc hành trình mua: để ý, so giá, sợ mất, nhìn người khác và thiên kiến của người bán
Bốn nhóm đầu nằm trong đầu khách, nhóm thứ năm nằm trong đầu người bán.

Danh sách dưới đây là phần chi tiết của một bức tranh lớn hơn về hành vi người tiêu dùng: khách cảm nhận, cân nhắc và chọn thế nào trước khi trả tiền. Mỗi thiên kiến có thể viết thành một bài riêng, nên ở đây tôi chỉ giữ phần cốt lõi.

Nhóm 1: thiên kiến quyết định khách có nhớ tới bạn hay không

Trước khi so giá, khách phải nghĩ tới bạn đã. Bốn thiên kiến dưới đây chi phối chuyện đó.

1. Lối tắt dễ nhớ (availability heuristic)

Chúng ta thường đánh giá mức độ phổ biến của một việc bằng cách xem mình có dễ nhớ ra ví dụ về nó hay không. Càng dễ nhớ, ta càng nghĩ việc đó xảy ra thường xuyên. Nhưng đôi khi, ta nhớ rõ chỉ vì nó gây ấn tượng mạnh, chứ chưa chắc vì nó xuất hiện nhiều.

Tversky và Kahneman chỉ ra rằng người ta dễ nghĩ ra những từ bắt đầu bằng một phụ âm hơn là những từ có phụ âm ấy ở vị trí thứ ba. Vì dễ nhớ ra hơn, phần lớn người tham gia cũng đoán rằng nhóm từ bắt đầu bằng phụ âm đó có số lượng nhiều hơn.

Với doanh nghiệp, cái tên khách nhớ ra đầu tiên có lợi thế ngay từ lúc khách bắt đầu cân nhắc.

2. Hiệu ứng tiếp xúc đơn thuần (mere exposure effect)

Đôi khi, chúng ta có thiện cảm với một thứ chỉ vì đã nhìn thấy nó nhiều lần.

Robert Zajonc cho người tham gia xem những từ vô nghĩa và những ký tự giống chữ Hán với số lần khác nhau, nhiều nhất là 25 lần. Thứ được xem nhiều lần hơn được đoán là mang nghĩa tốt hơn, dù không ai biết nghĩa thật của chúng.
Một xưởng gốm nhỏ đều đặn đăng ảnh sản phẩm mỗi tuần. Người chưa từng mua cũng dần nhận ra kiểu dáng, màu men của xưởng. Sự quen thuộc ấy có thể khiến họ thấy thích những món đồ này hơn, dù chưa từng cầm thử.

Bốn khung ảnh cùng một chiếc bình gốm đậm dần qua từng lần xuất hiện: lần đầu thấy, thấy lại, nhận ra kiểu dáng, thấy thích
Thấy đều đặn đủ lâu, người chưa từng mua cũng bắt đầu có thiện cảm.

3. Hiệu ứng hào quang (halo effect)

Khi có thiện cảm với một thương hiệu, chúng ta thường dễ đánh giá tốt cả những điểm mình chưa biết rõ về họ.

Nisbett và Wilson cho hai nhóm sinh viên xem cùng một giảng viên trả lời phỏng vấn. Khi ông tỏ ra ấm áp, người xem chấm ngoại hình, cử chỉ và giọng nói của ông là dễ chịu. Khi ông lạnh lùng, cũng những điểm ấy bị chấm là khó chịu.

Một bao bì chỉn chu có thể khiến khách nghĩ sản phẩm bên trong cũng tốt. Một tin nhắn trả lời chu đáo có thể khiến họ tin rằng dịch vụ sẽ tận tâm. Ấn tượng tốt ở một điểm cứ thế lan sang những điểm khác, ngay cả khi khách chưa trực tiếp trải nghiệm.

Sơ đồ ấn tượng tốt từ bao bì chỉn chu lan sang ba nhận định chưa kiểm chứng: sản phẩm bên trong tốt, dịch vụ tận tâm, shop uy tín
Một điểm sáng có thể khiến khách đánh giá tốt cả những điều họ chưa thử.

4. Thiên kiến tiêu cực (negativity bias)

Baumeister và cộng sự tổng hợp nhiều nghiên cứu và kết luận rằng điều xấu có sức nặng hơn điều tốt cùng cỡ.

Chúng ta thường bị ảnh hưởng bởi điều tiêu cực nhiều hơn điều tích cực ở mức tương đương. Vì vậy, chỉ một trải nghiệm tệ cũng có thể khiến khách mất thiện cảm với thương hiệu, dù trước đó họ đã hài lòng nhiều lần.

Đó là thiên kiến tiêu cực. Tôi sẽ dành một bài riêng để nói kỹ hơn; ở đây, chỉ cần nhớ rằng những trải nghiệm tốt và xấu không có sức nặng ngang nhau trong tâm trí khách hàng.

Nhóm 2: thiên kiến làm cùng một mức giá trông rẻ hoặc đắt

Khách hiếm khi biết chắc một món hàng đáng giá bao nhiêu. Họ dựa vào những gì đứng quanh con số.

5. Hiệu ứng mỏ neo (anchoring effect)

Tôi từng làm 1 thí nghiệm nhỏ cho một nhóm các bạn sinh viên, trong đó người đặt câu hỏi sẽ mặc lần lượt 2 cái áo, một cái in số 7 và một cái in số 25. Sau đó hỏi ngẫu nhiên các bạn sinh viên rằng “cây bạch dương cao nhất thế giới, cao bao nhiêu mét?”. Nhóm thấy áo số 7, trung bình chiều cao câu trả lời là 10 mét, nhóm thấy áo số 25 thì trung bình lại lại 20 mét.

Tversky và Kahneman cũng từng làm thí nghiệm tương tự, chọn ngẫu nhiên 1 con số từ 0 đến 100 cho từng nhóm khảo sát, rồi hỏi tỉ lệ nước châu Phi trong Liên Hợp Quốc. Xếp các câu trả lời từ thấp đến cao, con số đứng giữa của nhóm thấy số 10 là 25%, của nhóm thấy số 65 là 45%.

Họ thực hiện lại thí nghiệm nhiều lần có kèm phần thưởng cho ai trả lời đúng, kết quả vẫn không thay đổi.

Biểu đồ thí nghiệm mỏ neo: nhóm thấy số 10 đoán 25%, nhóm thấy số 65 đoán 45%
Con số trên vòng quay chẳng liên quan gì tới câu hỏi, vậy mà vẫn kéo câu trả lời theo nó.

Con số đầu tiên khách thấy trên bảng giá, kể cả khi nó chỉ để tham khảo, cũng kéo phán đoán của khách về phía nó.

6. Hiệu ứng khung (framing effect)

Năm 1981, Tversky và Kahneman đưa cùng một phương án chống dịch cho hai nhóm. “Cứu được 200 trong số 600 người” nghe tích cực hơn “400 trong số 600 người sẽ chết”, dù kết quả hoàn toàn giống nhau. Do đó có tới 72% người được hỏi đồng ý khi nghe cứu 200, nhưng chỉ có 22% đồng ý khi nghe 400 người sẽ chết.

Chúng ta không chỉ phản ứng với sự việc, mà còn với cách sự việc ấy được trình bày.

Cách nói về giá cũng ảnh hưởng đến cảm nhận của khách. Cùng một khoản chênh lệch, “giảm giá khi trả sớm” khiến khách thấy mình được lợi, còn “phụ thu khi trả muộn” khiến họ thấy mình mất thêm tiền. Bài hiệu ứng khung giải thích kỹ hơn cách diễn đạt có thể thay đổi phản ứng của người nghe.

Cùng một khoản chênh lệch được nói theo hai cách: giảm giá khi trả sớm khiến khách thấy được lợi, phụ thu khi trả muộn khiến khách thấy mất thêm tiền
Con số không đổi, chỉ đổi cách nói, cảm giác của khách đã khác.

7. Hiệu ứng mồi nhử (decoy effect)

Huber, Payne và Puto chỉ ra rằng thêm một phương án kém hẳn một lựa chọn, nhưng không kém hẳn lựa chọn còn lại, có thể làm tăng khả năng khách chọn phương án vượt trội đó. Nhóm tác giả gợi ý dùng điều này khi thiết kế dòng sản phẩm.

Đôi khi, thêm một gói dịch vụ ít hấp dẫn lại khiến khách muốn chọn gói khác hơn.

Chẳng hạn, một studio đang có gói chụp cơ bản và gói đầy đủ. Studio thêm một gói có giá gần bằng gói đầy đủ nhưng ít ảnh hơn, các quyền lợi khác giống nhau. Khi so sánh, khách có thể thấy chỉ cần trả thêm một chút là được nhiều ảnh hơn, nên gói đầy đủ có vẻ lời hơn.

Ba gói chụp ảnh của một studio: gói cơ bản, gói mới có giá gần bằng gói đầy đủ nhưng ít ảnh hơn, và gói đầy đủ trông lời hơn
Gói thêm vào không để bán, mà để gói đầy đủ trông đáng tiền hơn.

8. Kế toán tâm lý (mental accounting)

Chúng ta không coi mọi đồng tiền như nhau. Trong đầu mỗi người có nhiều ngăn như tiền ăn, tiền quà biếu, mỗi ngăn có mức chi riêng.

Não chia tiền thành ngăn như vậy vì cách này giúp ta quản lý chi tiêu dễ hơn.

Richard Thaler hỏi người được khảo sát sẵn lòng trả bao nhiêu cho chai bia bạn mua giúp khi họ đang nằm trên bãi biển. Nếu bia mua ở khách sạn nghỉ dưỡng sang trọng, mức giá đứng giữa trong các câu trả lời là 2,65 USD. Nếu mua ở một tiệm tạp hóa nhỏ lụp xụp, mức đó chỉ còn 1,50 USD.

Thử hình dung bạn bán bánh trung thu nhà làm. Đựng trong túi giấy, chiếc bánh bị so với bánh ngoài chợ và bị chê đắt. Đặt trong hộp quà có thiệp, chiếc bánh được xếp vào ngăn tiền biếu, và cùng mức giá ấy bỗng thấy hợp lý.

Bốn thiên kiến trong nhóm này cho thấy khách không đánh giá con số, khách đánh giá con số ở chỗ bạn đặt nó.

Nhóm 3: thiên kiến khiến khách sợ mất hơn ham được

Năm thiên kiến tiếp theo có chung một gốc: con người giữ chặt thứ mình đang có.

9. Ác cảm mất mát (loss aversion)

Mất một khoản tiền làm chúng ta khó chịu nhiều hơn niềm vui khi được đúng khoản ấy.

Lý do là thứ đã có được xem như một phần của mình, mất nó giống như bị lấy đi.

Trong lý thuyết triển vọng, Kahneman và Tversky viết rằng mất mát có sức nặng lớn hơn được lợi.

Giả sử bạn làm dịch vụ kế toán cho hộ kinh doanh. Câu chào thứ nhất nói dùng dịch vụ sẽ đỡ tốn thời gian. Câu thứ hai nói nộp tờ khai trễ có thể bị phạt, và bạn giúp tránh khoản phạt đó. Câu thứ hai dễ khiến chủ hộ dừng lại đọc hơn.

Hãy cho khách thấy họ sẽ mất gì nếu cứ giữ nguyên như cũ.

10. Hiệu ứng sở hữu (endowment effect)

Khi một món đồ đã thuộc về mình, ta thấy nó đáng giá hơn lúc chưa có. Vì vậy người đang giữ thường đòi giá cao hơn mức người chưa có chịu trả.

Kahneman, Knetsch và Thaler phát ngẫu nhiên cho một nửa số sinh viên một chiếc ly sứ in logo Cornell, loại hiệu sách bán 6 USD. Người có ly đòi giá cao hơn gấp đôi mức người không có ly chịu trả.

Chiếc ly đến tay họ do may rủi, vậy mà khi đã cầm, bán đi trở thành một khoản mất.

Hãy hình dung một tiệm nệm cho khách nằm thử 30 đêm tại nhà, không ưng thì trả lại. Sau vài tuần, chiếc nệm đã quen lưng. Lúc này, trả nệm là mất đi thứ mình đang dùng, nên khách khó quyết trả hơn.

Dùng thử hay để khách cầm món hàng trên tay đều giúp khách thấy món đồ đã là của mình. Bài hiệu ứng sở hữu có thêm ví dụ.

11. Thiên kiến hiện trạng (status quo bias)

Giữa giữ nguyên và thay đổi, phần đông chọn giữ nguyên, kể cả khi lựa chọn mới tốt hơn. Cái đang có, dù chưa ưng, vẫn cho cảm giác an toàn hơn.

Ta ngại thay đổi vì đổi thì tốn công tìm hiểu, mà đổi hỏng thì mình thấy có lỗi hơn.

Samuelson và Zeckhauser đưa cho người tham gia những tình huống đầu tư giả định. Một số người được báo rằng mình đang giữ sẵn một phương án. Phương án nào được gắn là đang giữ thì được chọn nhiều hơn.

Giả sử bạn bán phần mềm quản lý bán hàng cho các shop đang ghi sổ tay. Chủ shop thấy phần mềm tiện, nhưng nghĩ tới chuyện nhập lại hàng trăm mã hàng thì chần chừ. Nếu bạn nhận nhập dữ liệu giúp, rào cản lớn nhất được gỡ đi.

Khi mời khách bỏ nhà cung cấp cũ, đối thủ thật sự là thói quen của họ.

12. Hiệu ứng mặc định (default effect)

Khi một lựa chọn đã được chọn sẵn, phần lớn người dùng để nguyên. Muốn đổi chỉ mất một cú bấm, nhưng ít người làm.

Họ ngại cân nhắc, và cũng hay nghĩ lựa chọn sẵn là điều được khuyên dùng.

Eric Johnson và Daniel Goldstein hỏi 161 người trên mạng có muốn hiến tạng không. Khi mặc định là đồng ý, 82% giữ nguyên. Khi mặc định là không, chỉ 42% chọn đồng ý.

Biểu đồ thí nghiệm hiến tạng: 42% đồng ý khi phải tự chọn tham gia, 82% khi mặc định là tham gia
Câu hỏi giống nhau, chỉ khác ô nào được tích sẵn.

Thử hình dung một trang đặt hoa online. Ô gửi kèm thiệp viết tay miễn phí được tích sẵn, khách nhận bó hoa chu đáo hơn. Còn ô mua thêm bình hoa 150.000 đồng tích sẵn ở chỗ khó thấy sẽ khiến khách bực khi xem hóa đơn.

Bài hiệu ứng mặc định bàn cách đặt mặc định có lợi cho cả khách lẫn người bán.

13. Ngụy biện chi phí chìm (sunk cost fallacy)

Khi đã bỏ tiền, công sức hay thời gian vào một việc, ta khó dừng lại, dù làm tiếp không còn lợi.

Dừng lại giống như thừa nhận số tiền kia đã phí, và không ai muốn thấy mình sai.

Arkes và Blumer bán vé xem kịch cả mùa với ba mức giá chia ngẫu nhiên: giá đủ 15 USD, giảm 2 USD hoặc giảm 7 USD. Nửa đầu mùa, người trả giá đủ đi xem trung bình 4,11 vở. Hai nhóm được giảm giá chỉ đi 3,32 và 3,29 vở.

Giả sử bạn đã chi 30 triệu đồng chạy quảng cáo trên một kênh trong ba tháng mà đơn vẫn lèo tèo. Bạn có ba lựa chọn: làm tiếp, đổi hướng hay dừng lại. Câu nên hỏi là từ giờ làm tiếp thì được gì. Khoản 30 triệu đã chi không lấy lại được, nên đừng để nó giữ bạn ở lại.

Hai khung so sánh: tiền, thời gian, công sức đã bỏ ra không lấy lại được, và câu nên hỏi là từ giờ làm tiếp thì được gì
Phần đã chi không quay lại được, nên hãy quyết dựa trên những gì còn ở phía trước.

Nhóm 4: thiên kiến đến từ người khác và từ khoảnh khắc cuối

Khi không chắc, khách nhìn sang người khác. Khi nhớ lại, khách nhớ theo từng khoảnh khắc chứ không cộng đều cả trải nghiệm.

14. Bằng chứng xã hội (social proof)

Khi không chắc nên làm gì, ta nhìn xem người khác làm gì rồi làm theo. Càng nhiều người giống mình chọn một điều, ta càng tin điều đó đúng.

Điều nhiều người làm thường không quá tệ, và làm theo giúp ta khỏi tự tìm hiểu từ đầu.

Noah Goldstein và cộng sự, trong đó có Robert Cialdini, đặt thẻ nhắc dùng lại khăn tắm trong phòng khách sạn. Thẻ kêu gọi bảo vệ môi trường cho tỉ lệ dùng lại 35,1%. Thẻ nói phần lớn khách đã dùng lại khăn cho 44,1%.

Khi thẻ nói phần lớn khách từng ở chính căn phòng này đã làm vậy, tỉ lệ lên 49,3%.

Biểu đồ thí nghiệm khăn tắm khách sạn: 35,1% với thông điệp môi trường, 44,1% với thông điệp về những khách khác
Chỉ đổi một dòng chữ trên tấm thẻ, không đổi gì trong phòng.

Lấy một ví dụ giả định: một tiệm bánh kem mới mở bán trên Facebook. Người xem thấy bánh đẹp nhưng chưa dám đặt. Khi tiệm đăng ảnh các mẹ nhận bánh sinh nhật cho con kèm nhận xét thật, những người mẹ khác sẽ yên tâm hơn.

Lối tắt này cũng là gốc của hành vi bầy đàn trong mua sắm.

15. Hiệu ứng khan hiếm (scarcity effect)

Thứ gì càng ít, ta càng muốn có. Món hàng sắp hết trông đáng giá hơn chính nó khi còn đầy kệ.

Lý do là thứ hiếm thường là thứ tốt hoặc thứ nhiều người tranh.

Worchel, Lee và Adewole mời từng người nếm và đánh giá bánh quy trong hũ. Bánh trong hũ chỉ còn 2 cái được đánh giá đáng muốn hơn bánh trong hũ 10 cái, dù là cùng một loại. Hũ đang nhiều bị bớt còn ít thì bánh được chấm cao hơn nữa.

Giả sử một tiệm may áo dài chỉ nhận 15 đơn mỗi tháng trước Tết. Báo tháng này còn 4 suất là thông tin thật, giúp khách quyết sớm. Nếu tháng nào cũng báo còn 4 suất, khách sẽ mất lòng tin.

Bài sự khan hiếm bàn cách dùng mà không làm mất lòng tin.

16. Quy tắc đỉnh và kết (peak-end rule)

Khi nhớ lại một trải nghiệm, ta không cộng đều từng phút. Ta nhớ chủ yếu khoảnh khắc mạnh nhất và đoạn cuối.

Trí nhớ chỉ giữ lại vài khoảnh khắc nổi bật chứ không lưu cả cuốn phim.

Kahneman và cộng sự cho mỗi người ngâm tay vào nước lạnh hai lần. Lần ngắn kéo dài 60 giây ở 14 °C. Lần dài gồm đúng 60 giây ấy, cộng thêm 30 giây trong lúc nước ấm dần lên 15 °C. Khi được chọn làm lại một lần, 22 trong 32 người chọn lần dài.

Sơ đồ thí nghiệm nước lạnh: lần ngắn 60 giây ở 14 độ, lần dài thêm 30 giây nước ấm dần lên 15 độ
Lần dài chịu lạnh lâu hơn, nhưng kết thúc nhẹ hơn.

Thử hình dung một spa có liệu trình 90 phút rất tốt. Cuối buổi, khách phải đứng chờ thanh toán mười phút, và đoạn chờ đó dễ thành điều khách nhớ nhất. Nếu spa mời khách ngồi uống trà trong lúc chờ hóa đơn, buổi hẹn sẽ kết thúc nhẹ nhàng hơn.

Khâu giao hàng, lời cảm ơn và cách xử lý sự cố đáng được chăm chút hơn bạn nghĩ.

Nhóm 5: thiên kiến nằm trong đầu marketer và chủ doanh nghiệp

Bốn thiên kiến cuối không nằm ở khách. Chúng nằm ở người viết kế hoạch marketing và người duyệt ngân sách.

17. Thiên kiến xác nhận (confirmation bias)

Ta có xu hướng tìm và tin những thông tin hợp với điều ta nghĩ sẵn. Thông tin trái ý thì ta dễ bỏ qua.

Ta làm vậy vì nghe điều trái ý gây khó chịu, còn thấy mình đúng thì dễ chịu hơn nhiều.

Peter Wason đưa cho người tham gia dãy số 2, 4, 6 và nói dãy này theo một quy luật. Quy luật thật chỉ là ba số tăng dần. Nhiều người đoán một quy luật hẹp hơn, rồi chỉ thử những dãy hợp với phỏng đoán đó. Chỉ 6 trong 29 người nêu đúng quy luật ngay lần đầu.

Giả sử bạn tin chiến dịch mới đang chạy tốt. Bạn chụp lời khen gửi cả nhóm, còn bình luận chê và báo cáo đơn hàng kém thì gạt sang một bên.

Tôi thường nhắc khách hàng khi tư vấn branding: “Đừng chỉ lắng nghe lời khen. Hãy học từ những nhận xét tiêu cực.” Câu này nằm trong bài về thiên kiến nhận thức tôi viết năm 2024, và nó cũng là cách chống thiên kiến xác nhận khi đọc phản hồi của khách.

Sơ đồ phễu lọc thông tin của người tin chiến dịch mới đang chạy tốt: lời khen được chụp lại gửi cả nhóm, còn bình luận chê và báo cáo đơn hàng kém bị gạt sang một bên
Đã tin sẵn thì ta dễ giữ lời khen và bỏ qua những gì trái ý.

18. Thiên kiến quá tự tin (overconfidence bias)

Phần đông chúng ta đánh giá khả năng của mình cao hơn thực tế.

Ta biết rõ công sức và ý tốt của mình, còn những lần mình sai thì dễ quên.

Ola Svenson hỏi các nhóm sinh viên ở Mỹ và Thụy Điển tự đánh giá tay lái của mình so với những người khác trong nhóm. Ở nhóm Mỹ, 93% xếp mình vào nửa lái giỏi hơn. Ở nhóm Thụy Điển, con số này là 69%.

Hãy hình dung chủ một quán cơm văn phòng tin món của mình ngon hơn hẳn quán bên cạnh. Quán bên kia đông hơn, anh cho là do họ bán rẻ, mà chưa từng hỏi khách.

Trước khi kết luận mình hơn đối thủ, hãy hỏi vài khách vì sao họ chọn bên kia.

19. Ảo tưởng lập kế hoạch (planning fallacy)

Khi ước tính một việc mất bao lâu, ta hay đoán ngắn hơn thực tế. Ta vẫn đoán như vậy dù đã từng trễ hạn nhiều lần.

Lúc lên kế hoạch, ta hình dung mọi bước đều suôn sẻ.

Roger Buehler và cộng sự hỏi 37 sinh viên năm cuối bao lâu nữa họ xong luận văn. Trung bình họ đoán 33,9 ngày. Thực tế họ mất 55,5 ngày. Chỉ 29,7% xong trong thời hạn tự đặt.

Biểu đồ ảo tưởng lập kế hoạch: sinh viên dự đoán 33,9 ngày, thực tế mất 55,5 ngày
Khoảng chênh gần ba tuần giữa lời hứa với chính mình và thực tế.

Giả sử bạn định ra mắt trang web bán hàng mới sau hai tuần. Bạn tính một tuần làm giao diện, một tuần chụp ảnh. Bạn chưa tính tới lúc thợ ảnh dời lịch hay cổng thanh toán chờ xác minh.

Một cách tự vệ là lấy thời gian thật của lần làm tương tự gần nhất làm mốc, thay vì ước tính từ đầu.

20. Lời nguyền kiến thức (curse of knowledge)

Khi đã biết một điều, ta rất khó hình dung cảm giác của người chưa biết. Ta ngỡ điều mình thấy hiển nhiên thì ai cũng thấy.

Kiến thức đã thành phản xạ, nên ta quên hồi mình chưa biết thì bỡ ngỡ ra sao. Camerer, Loewenstein và Weber gọi hiện tượng này là lời nguyền kiến thức.

Elizabeth Newton nhờ một nhóm người gõ nhịp những bài hát quen thuộc bằng ngón tay. Nhóm kia nghe tiếng gõ và đoán tên bài. Người gõ đoán một nửa số bài sẽ được nhận ra. Thực tế, người nghe chỉ đoán đúng 3 trong 120 bài.

Thử hình dung bạn chỉ đường cho một người lần đầu tới thành phố của mình: “Cứ chạy thẳng, tới chỗ cây xăng cũ thì rẽ trái.” Người kia không biết cây xăng cũ ở đâu, nên dễ chạy qua.

Trang sản phẩm do người trong nghề viết cũng dễ đầy thuật ngữ như vậy. Hãy đưa bản nháp cho một người ngoài ngành đọc trước khi đăng.

Dùng thiên kiến để bớt cản trở khách, đừng dùng để gài khách

Biết 20 thiên kiến này, bạn sẽ thấy hai con đường. Đường thứ nhất là dọn bớt chỗ khiến khách khó quyết: đặt mặc định có lợi cho khách, nói rõ cái giá của việc chần chừ, cho khách thấy người giống họ đã chọn gì.

Đường thứ hai là dùng chính những lối tắt ấy để gài: đồng hồ đếm ngược cứ hết giờ lại chạy lại, ô mua thêm được tích sẵn ở chỗ khách khó thấy, dòng chữ sắp hết hàng trong khi kho còn đầy.

Đường thứ hai có thể tăng đơn trong ngắn hạn. Nhưng thiên kiến tiêu cực ở Nhóm 1 đã nói rằng điều xấu nặng ký hơn điều tốt cùng cỡ, nên một cú gài có thể xóa nhiều lần phục vụ tốt.

Một phép thử dễ nhớ: nếu khách biết bạn đang làm gì mà vẫn thấy ổn, đó là giúp. Nếu khách biết rồi thấy bị lừa, đó là gài.

Cách nghĩ này gần với nudge theory: thiết kế lựa chọn sao cho người ta dễ chọn điều tốt cho chính họ, mà vẫn giữ quyền tự quyết.

Hãy chọn một điểm chạm và soi nó qua năm câu hỏi trong tuần này

Đừng cố nhớ hết 20 tên gọi. Hãy chọn một điểm chạm khách gặp nhiều, như bảng giá, trang sản phẩm hay tin nhắn chào hàng, rồi soi nó qua năm câu hỏi dưới đây.

  • Khách gặp con số nào đầu tiên, và con số đó kéo cảm nhận về phía nào?
  • Lựa chọn mặc định đang có lợi cho khách, hay chỉ có lợi cho mình?
  • Thông điệp đang kể cái được, hay cho khách thấy họ sẽ mất gì nếu không thay đổi?
  • Khách đã thấy người giống mình chọn gì chưa?
  • Đoạn kết của trải nghiệm, từ lúc nhận hàng tới lời cảm ơn, có dễ chịu không?
Danh sách kiểm năm câu hỏi về thiên kiến nhận thức cho một điểm chạm: con số đầu tiên, mặc định, khung được mất, người khác, đoạn kết
In ra, đặt cạnh bảng giá hoặc trang sản phẩm, rồi đi qua từng dòng.

Sau đó, hỏi thêm một câu cho chính mình: mình đang thấy khách như họ vốn là, hay như mình muốn họ là?

Thiên kiến nhận thức là lối tắt có quy luật của cả khách lẫn người bán. Biết quy luật, bạn bớt đoán mò, và khách bớt phải vấp.

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

Thiên kiến nhận thức là gì?

+
Thiên kiến nhận thức (cognitive bias) là những sai lệch có hệ thống trong cách con người phán đoán và ra quyết định. Chúng thường sinh ra từ heuristic, tức các lối tắt tư duy giúp não quyết nhanh và phần lớn thời gian là đủ tốt. Vì sai theo quy luật nên có thể đoán trước, và doanh nghiệp có thể thiết kế trải nghiệm có tính tới chúng.

Thiên kiến nhận thức tiếng Anh là gì?

+
Thiên kiến nhận thức trong tiếng Anh là cognitive bias. Khi tìm tài liệu, bạn có thể gõ “list of cognitive biases” để ra các bảng liệt kê. Mỗi thiên kiến thường có tên tiếng Anh riêng, chẳng hạn anchoring effect (hiệu ứng mỏ neo), loss aversion (ác cảm mất mát) hay confirmation bias (thiên kiến xác nhận).

Heuristic là gì, khác thiên kiến nhận thức thế nào?

+
Heuristic là lối tắt tư duy, ví dụ đoán một chuyện hay xảy ra hay không dựa vào việc mình nhớ ra ví dụ dễ hay khó. Thiên kiến nhận thức là sai lệch có hệ thống mà lối tắt đó đôi khi gây ra. Tversky và Kahneman mô tả heuristic là rất tiết kiệm và thường hiệu quả, nhưng dẫn tới những lỗi có hệ thống, đoán trước được.

Thiên kiến nhận thức muộn là gì?

+
Thiên kiến nhận thức muộn (hindsight bias) là xu hướng thấy một kết quả như thể đã rõ từ trước, sau khi biết nó xảy ra. Nghiên cứu năm 1975 của Baruch Fischhoff cho thấy biết kết quả làm người ta đánh giá kết quả đó có xác suất cao hơn, và phần lớn không nhận ra nhận định của mình đã bị thay đổi.

TÁC GIẢ

Đặng Tâm — Founder D. Agency

NGƯỜI VIẾT BÀI NÀY

Founder D. Agency · Marketing & AI Consultant

Gần 20 năm làm Digital Marketing và Branding, tập trung vào marketing qua lăng kính tâm lý học tiêu dùng và ứng dụng AI cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Viết dndtam.com để hệ thống hóa những gì đã học, đã thử và đã thấy trong công việc thực tế.

// ĐỌC THÊM

// newsletter

Nhận bài mới

Sớm nhất mỗi tuần — không spam, hủy bất cứ lúc nào.